Hệ hình mới của phê bình văn học phần cuối

8 Tháng 5 2015

 Tiếp theo phần 3 của Hệ hình mới của phê bình văn học

Trước đây nhà phê bình Pháp Roland Barthes cũng đã từng nói rằng ý nghĩa vốn có của tác phẩm không quan trọng, quan trọng là ý nghĩa của việc nhà phê bình nói về nó, ý nghĩa mà nhà phê bình đặt vào đó.

Không phải ai cũng chủ trương phê bình chủ quan như thế, thậm chí có thể nói, ai cũng muốn phê bình một cách khách quan, khoa học, nhưng chẳng ai thoát được cái "vòng giải thích" chủ quan do kiến giải có trước qui định, cho nên nói như nhà giải thích học Đức H.Gadamer: "lý giải chỉ là một thứ trò đùa giữa sự vận động của truyền thống và sự vận động của người giải thích". Những điều đó cho thấy rằng trong cảm nhận và phê bình văn học đầy rẫy chủ quan, tùy tiện và không được bao giờ quên điều đó.

Hệ hình mới của phê bình văn học phần cuối

Hệ hình mới của phê bình văn học phần cuối

Nhưng nhận rõ tính chủ quan của phê bình không phải để phủ nhận tính khách quan, chủ trương bất khả thi. Về phương diện này M.Bakhtin lưu ý với ta một khía cạnh khác. Theo ông hiểu một tác phẩm văn học không giống như  hiểu một đồ vật. Đồ vật là một thứ vô tri vô giác, ta nói gì nó phải chịu. Nhưng tác phẩm là một phát ngôn có quan hệ với tác giả, với hiện thực và với người nghe. Nói theo ngôn ngữ của nhà hiện tượng học Pháp M.Duffrène thì tác phẩm là một tương đương của chủ thể (quasi subject), nghĩa là tác phẩm hàm chứa khả năng cãi lại người phê bình. Bakhtin cho ràng: "Hiểu một văn bản chính là phàn ánh đúng một sự phản ánh. Xuyên qua sự phản ánh của người khác mà có quan hệ với khách thể phản ánh". Nhưng muốn hiểu điều đó có nghĩa là hiểu tác giả. "Hiểu tác giả của tác phẩm – Bakhtin viết, có nghĩa là hiểu một ý thức khác, của người khác, hiểu thế giới của ý thức đó, tức là hiểu một chủ thể khác". Đồng thời, qua phê bình, tác giả, tác phẩm sẽ tự ý thức về bản thân như là qua những tấm gương, "ở đây sẽ có cuộc gặp gỡ của hai ý thức, và bao giờ cũng có một cuộc đối thoại ở một mức độ nào đó.

Tư tưởng quan trọng nhất của M.Bakhtin là phản đối việc vật hóa tác phẩm và người khác, là cảm thấy được sự hiện diện của ý thức người khác, chủ nhân của phát ngôn. Xem tác phẩm chỉ như một cấu trúc, một ngôn ngữ, trên thực tế là đã xem tác phẩm như một đồ vật, một khách thể. Tư duy nhân văn đòi hỏi xem tác phẩm như một hiện thân của chủ thể. Và đối thoại sẽ xác lập một quan hệ mới giữa nhà văn và nhà phê bình. Tiền đề của đối thoại là thừa nhận tính độc lập tự chủ của nhà phê bình và của nhà văn. Nó thủ tiêu mọi thứ trung tâm (tác giả là trung tâm, bản thể văn bản là trung tâm hay người đọc là trung tâm), đặt ngang hàng nhà văn và nhà phê bình như các bên đối thoại. Trong Những ván đế thi pháp Dostoiepski (1963) Bakhtin cho rằng thái độ đối thoại không chấp nhận sự phán xét sau lưng, phán xét vắng mặt để trốn đối thoại. .Không ai có quyền là người phán xét cuối cùng. Không bao giờ phán xét một lần là xong, không bao giờ có  kết thúc.

Đối thoại đặt mọi nhận xét, bình luận, phê bình, dù có vẻ dứt khoát đến đâu, vào phạm trù câu hỏi và chờ đợi trà lời. Theo Bakhtin, ở đây mà xác lập quan hệ thầy trò, đàn anh, đàn em, chính giáo, dị giáo là thủ tiêu đối thoại và tộc tôn độc thoại.

Cơ sở triết học của đối thoại là mỗi cái "tôi" đều có rriột trường nhìn, và do có trường nhìn mà có điểm mù, vừacó trường nhìn dôi ra so với người khác do cổ vị thế của người đứng ngoài, lại vừa bị hạn chế trong trường nhìn của chính mình. Do vậy trong ,đối thoại mọi cái tôi sẽ được bổ sung và làm giàu cho nhau. Các cố chấp, ngộ nhận được phản biện. Trong đối thoại bình thường những ngộ nhận không thể tồn tại dài lâu trong địa vị ưu thế. Đối thoại là con đường khắc phục mọi độc đoán. Đó cũng là con đường xóa bỏ cơ hội cho những ai muốn xây dựng uy tín bằng lối "đánh quả". Đối thoại là con đường duy nhất để khám phá cái mới đích thực cho khoa học và nghệ thuật, bởi đúng như Bakhtin nhận xét, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa giáo điều đều không.muốn hoặc không chấp nhận đối thoại.

Đối thoại do không có kết thúc, nên luôn gán với thời gian lớn. Thời gian nhỏ gắn với hiện tại, với tương lai gần’. Trong thời gian lớn không một ý nghĩa nào của tác phẩm bị chết đi. Như sự sống trong tự nhiên, mọi cái vô cơ sẽ được hấp thu và chuyển thành sự sống. Trong thời gian lớn, như niềm tin của Bakhtin, mọi ý nghĩa đều sẽ có ngày hội phục sinh của mình. Mọi tác phẩm văn học lớn đều có cơ hội phục  sinh. Rõ ràng đối thoại đã làm giàu cho văn học.

Để cho đối thoại không trở thành cãi vã thì nguyên tắc cơ bản là phải đọc tác phẩm như một chính thể toàn vẹn, vì như vậy diện mạo của ý thức khác mới hiện ra, Ở đây phương pháp miêu tả hiện tượng học và bàn thể luận có vị trí của chúng.

Tác phẩm văn học được viết ra để cho người ta tham gia đồng sáng tạo, mà đã có sự đồng sáng tạo của người đọc thì không tác phẩm văn học nào có thể tự đồng nhất vào chính nó. Một trong những bí ẩn của nghệ thuật là ở chỗ người đọc có thể hiểu tác phẩm tốt hơn bản thân nhà văn hay ít ra là không như nhà văn. Nhưng người đọc hiểu tác phẩm, đù đa dạng thế nào cũng là theo các tín hiệu mà nhà văn phát ra trong tác phẩm. Do vậy phải đặc biệt coi trọng việc khám phá tín hiệu, giải mã tác phẩm, ở đây không chỉ có đối thoại giữa cá nhân người đọc với tác giả, mà hơn thế, còn là đối thoại giữa các tầng lớp xã hội, các nền văn hóa dân tộc, các thời đại lịch sử. Đúng như Fish nhận xét, mọi thứ trong văn bản nghệ thuật đều là sản phẩm của giải thích, nhưng đều là giải thích của một hệ thống tín hiệu, mà mọi tín hiệu lại đều là sản phẩm của những nền văn hóa. Phê bình đối thoại là con đường thâm nhập vào cội nguồn văn hóa của tác phẩm, bộc lộ sự đa dạng về văn hóa của văn học.

Bản chất đối thoại của ý thức và của phê bình đã tiềm tàng từ lâu, nhưng tự giác vê nguyên tác đối thoại lại là câu chuyện hoàn toàn mới, gắn liên với ý thức và vai trò sáng tạo của phê bình. Chắc chắn nguyên tắc đối thoại sẽ làm cho đời sống phê bình sống động, phong phú.