TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TỈNH KHÁNH HÒA NĂM 2008

9 Tháng 5 2013

1.       ĐẶT VẤN ĐỀ.

Tại hội thảo quốc tế về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (NCT) tại Hà Nội, số liệu đưa ra cho thấy Việt Nam có hơn 7 triệu NCT, chiếm 10% dân số. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam đang trở thành thách thức đối với kinh tế – xã hội. Tại hội thảo này, theo các chuyên gia y tế, chi phí chăm sóc y tế NCT cao gấp 7 lần so với người trẻ nếu không có các giải pháp thích hợp. NCT thường mắc các các bệnh về huyết áp, tim mạch, nội tiết, trầm cảm, mất trí nhớ, các bệnh về xương khớp…, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống người cao tuổi [[i]].





Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết áp (THA) ở NCT đang là vấn đề sức khỏe đáng lo ngại. Một nghiên cứu đa trung tâm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tiến hành tại Bangladesh và Ấn Độ cho thấy tỉ lệ tăng HA ở NCT là 65% [[i]]. Tỉ lệ này cao hơn ở vùng thành thị và không khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa 2 giới. Nghiên cứu tỉ lệ tăng HA ở NCT tỉnh Hải Dương trên cơ sở điều tra  3.117 NCT tại cộng đồng, tác giả Nguyễn Đăng Phải đã đưa ra tỉ lệ THA là 28,2%, trong đó nam cao hơn nữ (30,3% so với 26,7%) [[ii]]. Trong khi đó, Viện Chiến lược và chính sách y tế năm 2006 đã đưa ra tỉ lệ tHA của NCT qua điều tra 7 tỉnh trong cả nước (bao gồm Sơn La, Hải Dương, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Bà Rịa-Vũng Tàu và Vĩnh Long) là 28,4% [[iii]].

 

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 1 thành phố và 1 thị xã, chưa tính đến huyện đảo Trường Sa). Tại tỉnh Khánh Hòa, chưa có nghiên cứu nào về THA ở NCT. Đề tài này nhằm tìm hiểu tình hình THA ở NCT trong tỉnh Khánh Hòa, góp phần xây dựng và thực hiện dự án phòng chống THA trên địa bàn tỉnh.

2.       ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

2.1.      Đối tượng nghiên cứu.

Toàn bộ NCT (từ 60 tuổi trở lên) đang sinh sống tại tỉnh Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu (tháng 11-12/2008).

2.2.      Thiết kế nghiên cứu.

Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang.

2.3.      Phương pháp chọn mẫu.

Chọn mẫu theo phương pháp mẫu chùm (cluster sampling). Tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều được chọn. Sau đó, chọn cụm 30 xã theo phương pháp mẫu thuận tiện (convenient sampling) theo cách sau: Mỗi huyện chọn 1 thị trấn (đại diện cho khu vực thị tứ, trung tâm của huyện). Các xã khác được chọn ngẫu nhiên (theo bảng số ngẫu nhiên sau khi đánh số thứ tự các xã được xếp theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông) theo 3 khu vực: miền núi, nông thôn (đồng bằng) và ven biển, hải đảo. Riêng 2 huyện miền núi (Khánh Sơn và Khánh Vĩnh) chọn các xã còn lại theo bảng số ngẫu nhiên, không chia theo khu vực sinh thái. Thị xã Cam Ranh và thành phố Nha Trang chọn 3 xã vùng nội thị, 3 xã theo khu vực. Huyện Ninh Hoà, ngoài thị trấn chọn 2 xã miền núi, 2 xã vùng nông thôn và 1 xã ven biển, hải đảo. Huyện Vạn Ninh, do là huyện ven biển nên không chọn vùng sinh thái miền núi, chỉ chọn thị trấn, đồng bằng và ven biển.

2.4.      Cở mẫu.

Cở mẫu được xác định dựa trên giả định về tỉ lệ THA ở NCT. Do không có tỉ lệ nghiên cứu nào trước đó tại tỉnh Khánh Hoà, và để tối ưu cở mẫu, chọn tỉ lệ này bằng 50%. Công thức tính cở mẫu trong nghiên cứu cắt ngang này như sau:

               

          Trong đó:

            n = cỡ mẫu nghiên cứu

            p :  Tỉ lệ THA ở NCT tỉnh Khánh Hòa. Chọn p = 0,5.

            q  = 1 – p = 0.5

            z2(1–α/2) = 1,96, tương ứng với độ tin cậy 95%.

          d = Độ chính xác. Chọn d = 0,03

          n tính toán được =  1.067 người

Vì đây là phương pháp chọn mẫu chùm cho nên cần điều chỉnh cở mẫu bằng hệ số thiết kế (DE: design effect). Trong trường hợp này chọn DE = 2. Do đó cở mẫu cần thiết là 1.067 * 2 = 2.134 người. Dự phòng 5% các trường hợp không điều tra đuợc do các nguyên nhân khác nhau, cở mẫu cần thiết được chọn là:

 

            n = 2.134 + (0,05*2.134) = 2.240 người.

2.5.      Thu thập số liệu.

Các số liệu sau đây được thu thập:

 

-         Các chỉ số về dân số học: Tuổi, giới, dân tộc.

 

-         Chỉ số huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr), được đo ở tư thế ngồi trong điều kiện nghỉ ngơi trước khi đo 5 phút, không sử dụng chất kích thích (café, thuốc lá) trước đó. Kết quả ghi nhận bằng mmHg. THA được định nghĩa theo phân loại của WHO/ISH [[iv]] khi HHTT ≥ 140mmHg hoặc HHTTr ≥ 90mmHg.

 

-         Các chỉ số nhân trắc: chiều cao đo theo tư thế đứng (tính theo centimet), cân nặng (tính theo kg với 1 số lẻ).

2.6.      Phương pháp phân tích số liệu.

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata. Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 10.0.

3.       KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.

3.1.      Những đặc điểm cơ bản của NCT (số liệu nền):

Chiếm 60,9% của mẫu là nữ, phần nào phản ánh tuổi thọ của nữ cao hơn nam. Nhóm tuổi dưới 80 tuổi chiếm hơn 80%. Dân tộc Kinh chiếm đa số (96,5%), tiếp theo là dân tộc Raglai (gần 3%), chủ yếu sống tại 2 huyện miền núi.

Bảng 1: Đặc điểm số liệu điều tra NCT

Nội dung

Số lượng

(n=2.170)

Tỉ lệ %

Giới tính:

-   Nam

-   Nữ

 

849

1.321

 

39,1

60,9

Nhóm tuổi:

-   Từ 60-69 tuổi

-   Từ 70-79 tuổi

-   Từ 80-89 tuổi

-   Từ 90-99 tuổi

-   >=100 tuổi

 

885

866

367

50

2

 

40,8

39,9

16,9

2,3

0,1

Dân tộc:

-   Kinh

-   Raglai

-   T’rin

-   Khác

 

2.095

64

1

10

 

96,5

2,9

0,1

0,5

 

3.2.      Tình hình thể lực của NCT.

3.2.1.         Cân nặng:

Cân nặng trung bình của NCT tỉnh Khánh Hòa là 49 kg ± 8,7 kg. So sánh cân nặng trung bình giữa 2 giới cho thấy nam có cân nặng trung bình cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê (Bảng 2).

Bảng 2: Cân nặng trung bình NCT Khánh Hòa theo giới

Giới

Cân nặng trung bình

Độ lệch chuẩn

So sánh

Nam (n = 849)

52,4 kg

8,5 kg

t2168 = 15,025

p = 0,000…

Nữ (n = 1.321)

46,9 kg

8,2 kg

Tổng cộng (n = 2.170)

49,0 kg

8,7 kg

 

 

3.2.2.         Chiều cao:

Chiều cao trung bình của NCT tỉnh Khánh Hòa là 155 cm, trong đó nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê: 160 cm so với 152 cm (Bảng 3).

Bảng 3: Chiều cao trung bình NCT Khánh Hòa theo giới

Giới

Chiều cao trung bình

Độ lệch chuẩn

So sánh

Nam (n = 849)

160 cm

6,4 cm

t2168 = 28,622

p = 0,000…

Nữ (n = 1.321)

152 cm

6,1 cm

Tổng cộng (n = 2.170)

155 cm

7,3 cm

 

 

3.2.3.         Chỉ số BMI:

Sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI) bằng cách chia cân nặng (tính theo kg) cho bình phương chiều cao (tính theo mét). Theo cách tính này thì BMI trung bình của NCT Khánh Hòa là 20,26 kg/m2. So sánh BMI trung bình giữa nam và nữ cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,0926).

 

Bảng 4: BMI trung bình NCT Khánh Hòa theo giới

Giới

BMI trung bình

Độ lệch chuẩn

So sánh

Nam (n = 849)

20,40

3,01

t2168 = 1,683

p = 0,0926

Nữ (n = 1.321)

20,17

3,14

Tổng cộng (n = 2.170)

20,26

3,09

 

 

Phân nhóm BMI theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) với 4 mức: gầy, bình thường, quá cân và béo phì, điều tra này cho thấy có gần 30% NCT có BMI < 18,5 (gầy) và tỉ lệ NCT có BMI trong giới hạn bình thường là hơn 64%. Tỉ lệ quá cân (30 ≥ BMI ≥25) không cao (5,6%) và béo phì rất thấp (0,3%). Sự khác nhau giữa nam và nữ chưa cho thấy có ý nghĩa thống kê (p = 0,43) (Bảng 5).

Bảng 5: Thể lực NCT Khánh Hòa (phân loại theo BMI) theo giới

Phân loại

Nam

Nữ

Cộng

So sánh

Gầy

239

(28,2%)

409

(31,0%)

648

(29,9%)

χ2 = 2,7525

p = 0,431

Bình thường

562

(66,2%)

832

(63,0%)

1.394

(64,2%)

Quá cân

45

(5,3%)

77

(5,8%)

122

(5,6%)

Béo phì

3

(0,3%)

3

(0,2%)

6

(0,3%)

Tổng cộng

849

1.321

2.170

 

 

3.3.      Tình hình THA.

3.3.1.         Huyết áp trung bình.

HA trung bình, cả tâm thu và tâm trương đều cho thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ (Bảng 6), theo đó HA trung bình của nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Ha trung bình cho cả 2 giới là 136/81 mmHg.

Bảng 6: Huyết áp NCT tỉnh Khánh Hòa

Giới

Tổng số

HA Trung bình

SD

So sánh

Tâm thu

Nam

849

138

20,6

t2166 = 3,313

p = 0,0009

Nữ

1.319

135

20,9

Tổng

2.168

136

20,8

 

Tâm trương

Nam

849

82

9,9

t2166 = 3,989

p = 0,0001

Nữ

1.319

80

10,7

Tổng

2.168

81

10,4

 

 

3.3.2.         Tình hình THA.

Dựa trên phân loại THA của WHO/ISH [5], tỉ lệ THA ở NCT tỉnh Khánh Hòa là 48,1%, cao hơn các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Phải [3] và Đàm Viết Cương [4].

Phân tích tình hình THA theo giới đã cho thấy nam có tỉ lệ THA cao hơn nữ một cách có ý nghĩa thống kê: 52,2% so với 45,4% (Bảng 7).

Phân tích theo 2 dân tộc sinh sống chủ yếu tại Khánh Hòa (Kinh và Raglai, dân tộc sống chủ yếu tại 2 huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh), kết quả cho thấy tỉ lệ THA ở người Kinh cao hơn nhiều so với người Raglai một cách có ý nghĩa. Sự khác biệt có lẽ liên quan đến lối sống tĩnh tại, sự đô thị hoá, chế độ ăn… của người Kinh so với người Raglai.

Bảng 7: Tình hình THA theo giới tính và dân tộc

 

Tổng số

Tăng HA

Tỉ lệ %

So sánh

Giới tính

Nam

849

443

52,2

χ2 =9,46

p = 0,002

Nữ

1.321

600

45,4

Cộng

2.170

1.043

48,1

 

Dân tộc

Kinh

2.095

1.016

48,5

χ2 =8,8

p = 0,003

Raglai

64

19

29,7

 

3.4.      Mối liên quan giữa THA với các chỉ số nhân trắc.

Tìm hiểu mối liên quan giữa HATT với BMI và tuổi, biểu đồ dạng chấm cho thấy xu hướng tương quan này (Hình 1, Hình 2). Theo đó, HATT có xu hướng tăng theo tuổi và BMI.

 

 


Hình 1: Mối tương quan giữa HATT và Tuổi


Hình 2: Mối tương quan giữa HATT và BMI

Phân tích mối tương quan theo giới thì thấy mối tương quan mạnh hơn ở nữ so với ở nam đối với chỉ số BMI nhưng ngược lại đối với tuổi (Hình 3, Hình 4).

Hình 3: Mối tương quan giữa HATT và BMI theo giới

Hình 4: Mối tương quan giữa HATT và tuổi theo giới

Áp dụng mô hình hồi quy đa biến để tìm hiểu mối liên quan giữa HATT với BMI và tuổi có sự tượng tác bởi giới tính, sử dụng Stata sau khi chuyển dạng số liệu sang logarit, phương trình được viết như sau:

log(HATT) = 4,5391 + 0,0034*tuổi – 0,0017*giới*tuổi + 0,0051*log(BMI)*giới

 

Trong đó giới = 1 nếu là nữ và = 0 nếu là nam.

 

Tuy nhiên, mối tương quan đa biến này chưa mạnh (R2 = 0,0329).

4.       KẾT LUẬN.

 

4.1.      Tỉ lệ THA ở NCT Khánh Hòa là khá cao: 48,1% (95% độ tin cậy: 46,0% – 50,2%).

 

4.2.      THA ở nam cao hơn ở nữ có ý nghĩa thống kê (52,2% so với 45,4%), người Kinh cao hơn so với người Raglai (48,5% so với 29,7%).

 
4.3.      Có mối tương quan giữa THA với chỉ số BMI và tuổi. Giới tính đóng vai trò là yếu tố tương tác đối với mô hình hồi quy đa biến.

 

SUMMARY

Using a random sample of 2,170 Elderly People living in Khanh Hoa province, a survey showed the prevalence of hypertension is 48.1% (95% CI: 46,0% – 50,2%). Males are at the higher prevalence of hypertension than Females (52.2% vs 45.4%). The Raglai minority people who are mostly living in the 2 mountainous districts have a relatively low percentage of hypertension (29.7%). There are associations between hypertension prevalence with BMI as well as age using multiple regression model with gender plays the role of  interaction in the model.

 

Key words: Hypertension, Body Mass Index (BMI), systolic blood presuure, diastolic bolld pressure.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam. Hội thảo Quốc tế vầ chăm sóc người có tuổi. on the web at http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30085&cn_id=372058, ngày 20/11/2009.

[2] WHO – Hypertension Study Group. Prevalence, Awareness, treatment and Control of Hypertension among the Elderly in Bangladesh and India: A multicentre study. Bulletin of the WHO, Vol 79 No 6, 2001.

 

[3] Nguyễn Đăng Phải. Điều tra tình hình bệnh tăng huyết áp và xây dựng mô hình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng. Đề tài NCKH cấp tỉnh tỉnh Hải Dương, on the web http://www.haiduongdost.gov.vn 30/11/2009.

 

[4] Đàm Viết Cương và cs. Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam – báo cáo tóm tắt năm 2006. on the web at http://www.hspi.org.vn/ 30/11/2009.

 

 
 

[5] WHO/ISH writing group. 2003 World Health organization (WHO)/International Society of Hypertension (ISH) statement on management of hypertension. “Journal of Hypertension” Vol 21, No 11. 2003.

Theo: sở y tế Khánh Hòa